CÁC THÀNH PHẦN TRONG MỸ PHẨM: CHẤT BẢO QUẢN, CHẤT MÀU

Chất bảo quản

Chất bảo quản cung cấp độ ổn định và bảo vệ chống lại sự phát triển của vi khuẩn và nấm phá hủy mỹ phẩm. Các đặc tính khử trùng của paraaminobenzoic acid esters (parabens), các hợp chất giải phóng formaldehyde, isothiazolinone, hợp chất hữu cơ của thủy ngân (thiomersal) thường được sử dụng trong mỹ phẩm. Các hợp chất này có cấu trúc hóa học khác nhau và có thể chia thành các nhóm sau: alcohol, amide và amine, carbanilide, formaldehyde và kim loại.

Paraben là chất bảo quản thường gặp trong mỹ phẩm

Trong nhóm chất bảo quản, cần chú ý đặc biệt đến thiomersal (tên khác: merthiolate, thimerosal, vitaseptol), là một hợp chất thủy ngân hữu cơ của acid thiosalicylic. Nồng độ tối đa có thể là 0.007% (dựa trên thủy ngân). Nó thường được tìm thấy trong mỹ phẩm như màu mắt, mascara, lotion, lens và các chế phẩm nhãn khoa. Chất bảo quản này cũng được sử dụng trong vắc-xin và nhiều sản phẩm khác. Thiomersal có tính kháng khuẩn và kháng nấm, không gây kích ứng da và màng nhầy. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ dương tính với thiomersal rất cao. Một số nghiên cứu đã báo cáo rằng dị ứng tiếp xúc với thiomersal khoảng 18.5% ở người trẻ.

Formalin (dung dịch formaldehyde) và formaldehyde được ưu tiên trong số các chất bảo quản gây dị ứng trong mỹ phẩm. Formalin là một chất bảo quản tuyệt vời với mùi đặc trưng, khó chịu, được trung hòa bằng cách thêm hương liệu đặc biệt. Hợp chất này được sử dụng rộng rãi không chỉ trong bảo quản mà còn được dùng trong sản xuất nhiều loại chất dẻo. Formaldehyde là một chất gây dị ứng tương đối mạnh, vì vậy chất này đang được giảm nồng độ trong sử dụng.

Chất bảo quản đáng chú ý là ester của para-hydroxybenzoic acid được gọi là paraben. Về mặt hóa học, chúng chủ yếu là ester của methyl, ethyl, propyl, butyl và benzyl p-hydroxybenzoate. Các ester chuỗi ngắn có tác dụng chống lại vi khuẩn, và ester chuỗi dài hoạt động mạnh hơn để kháng nấm và do đó, hỗn hợp của các hợp chất này thường được sử dụng. Tuy nhiên, các nghiên cứu về dị ứng hầu như luôn luôn có 3 ester (metyl, ethyl và propyl) trong hợp chất. Các hợp chất này có mặt trong hầu hết tất cả (99%) mỹ phẩm và một phần lớn (77%) trong mỹ phẩm phải rửa sạch sau khi sử dụng, và nồng độ của nó có thể lên đến 0,8%. Tuy nhiên, paraben là chất gây dị ứng tương đối yếu và thường gây ra các phản ứng dị ứng trên da bị tổn thương.

Chất tạo màu

Một chất khác được kết hợp trong mỹ phẩm cũng là nguyên nhân gây dị ứng thường gặp là paraphenylenediamine (PPD). Nó chủ yếu là thành phần trong thuốc nhuộm tóc, dầu gội tạo màu và nhiều loại mỹ phẩm khác. Paraphenylenediamine là một thành phần của nhóm “para-amino” – nhóm amin thơm, có thể gây phản ứng chéo và dị ứng thứ cấp với các loại thuốc nhuộm tóc khác ở những người có cơ địa dị ứng với PPD.

Dị ứng với paraphenylenediamine trong thuốc nhuộm tóc 

Ba Lan đánh giá tỷ lệ phản ứng quá mẫn với PPD khoảng 3.4% đến 9.1% dân số nói chung. Tuy nhiên, thuốc nhuộm màu đen là nguyên nhân gây dị ứng chủ yếu ở các tiệm làm tóc. Theo Valks và cộng sự, 50% thợ làm tóc nhạy cảm với PPD. Nguồn gốc của dị ứng thường do mực henna nhân tạo có chứa PPD. Henna nhân tạo thường gây dị ứng, đặc biệt ở những bạn trẻ xăm tattoo. Hiện nay, sự gia tăng độ dung nạp với PPD ở những người sử dụng mỹ phẩm chứa chất tạo màu được giải thích là do sự gia tăng độ tinh khiết của mỹ phẩm. Trước đây, trong số những phụ nữ nhuộm lông mi với henna nhân tạo, có những trường hợp phản ứng nghiêm trọng đến nỗi gây tổn thương giác mạc. Có rất nhiều chất tạo màu khác nhau như: đỏ toluidine, muối calci của đỏ lithol hoặc chì oxid, có thể là nguyên nhân của các phản ứng dị ứng.

Nhiều loại thuốc nhuộm là những chất có thể gây các phản ứng quang độc tính hoặc quang dị ứng; chúng bao gồm eosin, rose bengal, methylene blue, anthraquinone. Eosin – thuốc nhuốc màu đỏ đậm, là một ví dụ điển hình của tác nhân gây dị ứng. Ở những người tiếp xúc với eosin, ngứa và đổ mồ hôi tay cũng như nổi mụn nước ở tay đã được tìm thấy. Loại này được sử dụng trong sản xuất mỹ phẩm ở châu Á và các quốc gia Ả rập. Tuy nhiên, nó đã bị rút ra khỏi thị trường châu Âu và Hoa Kỳ do độ nhạy cảm cao.