Cơ Chế Trị Mụn Của Isotretinoin

Sử dụng Isotretinoin vẫn là một phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho các tình trạng mụn trứng các nặng hoặc các trường hợp không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác. Bài viết sau sẽ phác thảo cơ chế đằng sau kết quả tuyệt vời của phương pháp. 

Sử dụng isotretinoin (13-cis-retinoic acid) được chấp thuận để điều trị mụn bởi Cục quản lý Dược và Mỹ phẩm Hoa Kỳ (FDA) vào năm 1982. Cho đến nay, sau hơn 2 thập kỷ, isotretinoin vẫn là liệu pháp điều trị mụn có hiệu quả lâm sàng nhất, chưa có phương pháp nào có thể thay thế được.

Isotretinoin là liệu pháp duy nhất có tác động lên tất cả các yếu tố bệnh học lớn liên quan đến mụn trứng cá.  Nó đạt được các hiệu quả to lớn bằng cách ảnh hưởng đến hầu hết các quá trình trong chu kỳ tế bào, biệt hóa tế bào, sự tồn tại của tế bào, sự chết của tế bào. Nó làm giảm đáng kể bã nhờn, giảm tắc nghẽn lỗ chân lông, giảm P.acnes và có tính kháng viêm. Liều 0,5-1mg/kg/ ngày làm giảm đáng kể tiết bã nhờn đến khoảng 90% trong vòng 6 tuần. Không giống với tretinoin, isotretinoin ít hoặc không có khả năng liên kết với protein hoặc receptor trong nhân tế bào mà nó hoạt động như một tiền chất được chuyển hóa trong tế bào chất đồng vận các receptor RAR và RXR trong nhân tế bào.

Isotretinoin có ít nhất là 5 dạng chuyển hóa sinh học quan trọng: 13-cis-4-oxo-retinoic acid (4-oxo-isotretinoin), all-trans-RA (tretinoin), acid all-trans-4-oxo-retinoic (4-oxo-tretinoin), 9-cisretionic acid và acid 9-cis-4-oxo-retionic. Một nghiên cứu đã kiểm tra tác dụng giảm tiết bã nhờn ở những bệnh nhân bị mụn trứng cá, thấy sau 4 tuần, 4-oxo-isotretionin (30-60 mg/ngày, uống) giảm được hơn 30% so với dùng isotretionin. Isotretinoin cũng hiệu quả hơn 9-cis-retinoic acid và all-trans-retinoic acid trong tác dụng giảm tiết nhờn.Chỉ có tretinoin và 4-oxo-tretionin là kết hợp với gramma-RAR – receptor quan trọng trong phương pháp điều trị mụn bằng retionid. Nồng độ nội bào của tretinoin cao hơn isotretionin.  Những dữ liệu này cho thấy rằng tretinoin có thể là hình thức hoạt động của isotretinoin. Trong một nghiên cứu, Tsukada và cộng sự kết luận rằng isotretinoin cần được xem là một tiền chất. Sự khác biệt về nồng độ của các chất chuyển hóa trong huyết tương có thể giải thích sự khác biệt về mức độ của các phản ứng điều trị và các tác dụng phụ trên bệnh nhân.  Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng isotretionin gây ra sự chết tế bào trong sebocyte và những tác động này độc lập với việc kích hoạt các thụ thể RAR, từ đó thấy được sự thu nhỏ các tuyến bã nhờn do uống isoretinoin giúp giảm sản xuất bã nhờn.

Isotretinoin làm giảm đáng kể tình trạng tắc lỗ chân lông bằng cách giảm tăng sinh tế bào sừng. Cơ chế chính xác của tác động này vẫn chưa được nghiên cứu chính xác, chưa có bằng chứng nào cho thấy isotretinoin có tác động lên hoạt động trao đổi chất của các tế bào sừng.

Uống isotretinoin không trực tiếp gây ra tác dụng kháng khuẩn nhưng bằng cách giảm đáng kể lượng bã nhờn và giảm kích thước của ống bã nhờn làm cho môi trường không còn thuận lợi cho vi khuẩn P.acnes xâm nhập nữa. Kết quả là giảm mụn do p.acne và tác dụng đó còn nhìn thấy rõ hơn khi kết hợp cả đường uống và đường thoa tại chỗ.  Một số nhà nghiên cứu cho rằng có thể cả all-trans-retinoic acid, isotretinoin đều có thể tăng các cơ chế miễn dịch và thay đổi chuyển hóa – một trong những cách lý giải cho tác động chống viêm của thuốc này.Việc giảm đáng kể số lượng vi khuẩn P. acnecũng góp phần giảm phản ứng viêm.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *