DƯỢC MỸ PHẨM CHỨA VITAMIN VÀ NHỮNG CHẤT CHỐNG OXY HÓA (PHẦN 1)

Vitamin C

Vitamin C (hay L-ascorbic acid) là chất chống oxy hóa dồi dào nhất trong da người. Đa số động vật và thực vật đều có khả năng tự tổng hợp vitamin C cho mình, nhưng con người và loài linh trưởng lại mất khả năng sản xuất L-gluconolactone oxidase (enzyme cần cho sự tổng hợp vitamin C), vì vậy chủ yếu lấy từ nguồn cung cấp bên ngoài như thực phẩm. L-ascorbic acid dùng ngoài da là cách duy nhất để tăng đáng kể nồng độ của chúng trên da (20-30 lần so với đường uống), tuy nhiên khả năng này cũng rất giới hạn. Hợp chất tan trong nước, góp electron và trung hòa các gốc tự do, bảo vệ các cấu trúc nội bào khỏi stress oxy hóa.

Hợp chất tan trong nước, góp electron và trung hòa các gốc tự do, bảo vệ các cấu trúc nội bào khỏi stress oxy hóa

Vitamin C rất cần thiết cho quá trình tổng hợp collagen, đóng vai trò như coenzyme cho prolyl và lysyl hydroxylase (enzyme giúp ổn định cấu trúc chuỗi xoắn ba của collagen); hoạt hóa quá trình phiên mã và ổn định mARN procollagen, từ đó ảnh hưởng lên sự tổng hợp collagen. Ngoài những tác dụng trên, vitamin C còn giúp làm sáng da và có khả năng kháng viêm, giảm phù nề, sưng đau sau các liệu trình thẩm mỹ (như tái tạo bề mặt với laser). Vitamin C hỗ trợ tái tạo α-tocopherol, làm giảm lượng vitamin E cần thiết cần thu nạp vào.

Vitamin C ở dạng có hoạt tính là L-ascorbic acid rất kém bền khi tiếp xúc với không khí, vì vậy những dẫn xuất ester của L-ascorbic acid đã ra đởi để cải thiện độ ổn định của thành phẩm. Hai dẫn xuất phổ biến nhất là ascorbyl phosphate và ascorbyl-6-palmitate. Theo một vài nghiên cứu, magnesium ascorbyl phosphate tương đối ổn định và làm sáng da khá tốt. Ascorbyl-6-palmitate là dẫn xuất thân dầu của acid ascorbic không có độ ổn định và khả năng thấm tốt đồng thời hoạt tính cũng kém.

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng khả năng vận chuyển L-ascorbic acid qua da tùy thuộc vào việc loại bỏ điện tích của phân tử, điều này chỉ xảy ra khi pH bé hơn 3,5. Trên mức nồng độ 20%, khả năng hấp thu qua da của vitamin C bị bão hòa.

Vitamin E

Vitamin E là chất chống oxy hóa thân dầu chủ yếu trong da người, tồn tại ở 8 dạng phân tử, 4 tocopherol và 4 tocotrienol. Cũng giống như vitamin C, vitamin E chỉ thu được từ nguồn thực phẩm bên ngoài. Nồng độ cao nhất của hợp chất này nằm ở lớp tế bào sâu nhất ở lớp sừng. α-tocopherol là dạng có hoạt tính nhất, giúp bảo vệ màng tế bào khỏi sự peroxid hóa lipid bởi gốc tự do và giảm hình thành sản phẩm cộng của ADN hay chất gây mẫn cảm do UVA sinh ra. Một khi bị oxy hóa, vitamin E có thể tái tạo ngược lại thành dạng khử của vitamin C, góp phần vào tác động cộng hợp của 2 thành phần chống oxy hóa này.

α-tocopherol là dạng có hoạt tính nhất, giúp bảo vệ màng tế bào khỏi sự peroxid hóa lipid bởi gốc tự do và giảm hình thành sản phẩm cộng của ADN hay chất gây mẫn cảm do UVA sinh ra

Vitamin E (α-tocopherol hay tocopherol acetate) được sử dụng trong các sản phẩm không kê đơn với nồng độ từ 1-5%. Các nghiên cứu đã cho thấy hợp chất này có khả năng làm giảm phù nề cũng như số lượng tế bào biểu bì bị bỏng nắng gây ra bởi tia UVB.

Một vài dạng ester của vitamin E (acetate, succinate, linoleate) giúp làm giảm tổn thương trên da gây ra bởi bức xạ UV, nhưng những hợp chất này hoạt tính vẫn còn yếu hơn α-tocopherol vì cần được thủy phân trong quá trình hấp thu vào da và cho tác dụng. Hơn nữa, khả năng hấp thu và chuyển hóa của tocopherol acetaete phụ thuộc nhiều vào hệ tá dược và độ ổn định của công thức đó.

Vitamin E làm giảm sự phù nề và đỏ rát da nếu sử dụng trước khi tiếp xúc với ánh nắng, sử dụng ngược lại dường như không có tác dụng. Hợp chất này khi thoa ngoài da cũng cải thiện sự hydrat hóa lớp sừng, cho tác động hiệp lực khi sử dụng cùng với vitamin A (retinol) và C (acid ascorbic) trong sản phẩm phối hợp, tăng cường khả năng chống oxy hóa và bảo vệ da khỏi ánh nắng mặt trời. Sự kết hợp thêm acid ferulic vào dung dịch chứa 15% acid ascorbic và 1% α-tocopherol giúp cải thiện hiệu lực cũng như tăng cường sự ổn định của công thức. Với những công dụng tuyệt vời kể trên, vitamin E được xem là một thành phần đầy hứa hẹn giúp đẩy lùi các dấu hiệu gây ra trên da do lão hóa nội sinh và ngoại sinh.

Vitamin B3

Vitamin B3 (còn gọi là niacinamide hay nicotinamide) là một vitamin nhóm B tan trong nước, hấp thu nhờ vào chế độ dinh dưỡng, sự thiếu hụt nghiêm trọng hợp chất này trong cơ thể sẽ dẫn đến bệnh pellagra. Vitamin B3 là một phần của coenzyme NAD, NADP, NADH và NADPH, đây đều là những phân tử quan trọng trong phản ứng chuyển hóa của tế bào. Dạng khử của chúng đóng vai trò như những chất chống oxy hóa.

Vitamin B3 là một phần của coenzyme NAD, NADP, NADH và NADPH, đây đều là những phân tử quan trọng trong phản ứng chuyển hóa của tế bào

Niacinamide được sử dụng nhiều trong mỹ phẩm nhờ vào tính kháng viêm, giảm mụn, cải thiện vẻ ngoài của da, giảm sưng đỏ trong nhiều trường hợp khác. Ngoài ra khi sử dụng trên da, vitamin B3 còn tác động lên quá trình tổng hợp sphingolipid, acid béo tự do, cholesterol và ceramide, từ đó làm giảm mất nước xuyên biểu bì. Hoạt tính làm trắng da của vitamin B3 có được là do ức chế sự vận chuyển của melanosome trong melanocyte đến keratinocyte.

Niacinamide được chứng minh làm tăng sản xuất collagen trong nguyên bào sợi, điều này góp phần cải thiện độ đàn hồi của da và làm giảm đi những nếp nhăn mịn. Khi sử dụng trên da mặt, vitamin B3 rất ít gây kích ứng, bền vững hóa học, dễ bào chế và tương thích với nhiều thành phần khác, vì vậy đây được xem như một hợp chất lý tưởng và được sử dụng rất phổ biển trong dược mỹ phẩm.

Panthenol

Panthenol hay provitamin B5 là tiền chất của acid pantothenic (vitamin B5), tồn tại ở 2 dạng đồng phân quang học D và L nhưng chỉ có D-panthenol là dạng có hoạt tính sinh học. Mặc dù vậy, cả hai đều có khả năng dưỡng ẩm khá tốt.

Panthenol là thành phần của coenzyme A vốn là hợp chất quan trọng trong nhiều phản ứng xúc tác quan trọng của enzyme trong quá trình chuyển hóa carbohydrate, acid béo, protein, gluconeogenesis, sterol, hormon steroid và porphyrin.

Dexpanthenol thấm tốt khi sử dụng ngoài da khi sử dụng công thức nền phù hợp (nhũ tương nước trong dầu). Hợp chất này đáp ứng tốt, ít gây kích ứng hay quá mẫn trên da, cải thiện sự hydrat hóa lớp sừng, giảm mất nước xuyên biểu bì và duy trì sự mềm mại và độ đàn hồi trên da đồng thời kích hoạt sự tăng sinh nguyên bào sợi, thúc đẩy làm lành vết thương.

Dexpanthenol cho khả năng kháng viêm tốt, phù hợp với bệnh nhân vừa trải qua phẫu thuật thẩm mỹ, điều trị dành cho da bỏng hay những rối loạn da liễu khác nhau. Hợp chất này còn được dùng để giảm kích ứng do tretinoin và những thành phần khác. Sản phẩm chứa dexpanthenol kích thích tăng sinh biểu bì và lớp hạt, giảm ngứa da.

Vitamin K

Vitamin K dùng để chỉ một nhóm vitamin tan trong dầu có cấu trúc tương tự nhau. Vitamin K1 (còn được gọi là phylloquinone, phytomenadione hay phytonadione) là dạng được ưa dùng nhất của vitamin K. Những hợp chất này hiện diện trong phần lớn mô người và tham gia vào nhiều quá trình chuyển hóa quan trọng của tế bào như tăng sinh, khoáng hóa trên xương, calci hóa nhân tạo, sự chết có chương trình của tế bào, thực bào, kiểm soát tăng trưởng, hóa hướng động và truyền tải tín hiệu. Hơn nữa, vitamin K còn có tính oxy hóa-khử, góp phần điều chỉnh sự chuyển hóa tế bào, tạo nên tính kháng viêm của hoạt chất.

Vitamin K còn có tính oxy hóa-khử, góp phần điều chỉnh sự chuyển hóa tế bào, tạo nên tính kháng viêm của hoạt chất

Vitamin K rất cần thiết cho quá trình đông máu và cải thiện tuần hoàn mạch máu, rất hữu ích trong điều trị vùng da bị bầm trong quá trình phẫu thuật. Kem thoa ngoài da chứa vitamin K làm dịu vùng da kích ứng, giảm tình trạng giãn mao mạch trên da, vết rạn da, sẹo và quầng thâm quanh mắt, điều trị các rối loạn da liễu như gốc oxy hóa tự doacea. Hơn nữa, vitamin K còn giúp tăng cường tổng hợp collagen, từ đó làm tăng độ đàn hồi của da.

Các sản phẩm dùng ngoài da của vitamin K được sử dụng để ngăn ngừa các vấn đề về mạch máu dưới da do lão hóa, sự suy giảm sắc tố và da bị thâm tím. Vitamin K thúc đẩy loại bỏ các vết máu tụ dưới da, thích hợp sử dụng sau các liệu trình điều trị bằng laser. Nhờ các thành phần có tính chống oxy hóa, vitamin K còn có khả năng thúc đẩy làm lành vết thương. Tuy vậy, các nghiên cứu về hoạt tính của vitamin K trên da vẫn còn hạn chế so với vitamin E và C.