Một Số Loại Hoạt Chất Trị Mụn Đường Thoa

Acid azelaic

Acid azelaic là một thành phần được tìm thấy trong nhiều loại ngũ cốc nguyên hạt và sản phẩm có nguồn gốc động vật. Acid azelaic là một acid dicarboxylic béo nổi tiếng và nó đã được sử dụng trong nhiều thập kỷ trong việc điều trị mụn trứng cá.

Các dạng sử dụng kem acid azelaic 20% đơn trị liệu hoặc phối hợp điều trị với acid glycolic, gel acid azelaic 20% hoặc 15%, gel acid azelaic 5% kết hợp với clindamycin 2% hoặc erythromycin 2% đều cho thấy hiệu quả trong điều trị mụn.

Kem acid azelaic 20% có thể làm giảm số lượng của cả hai tổn thương viêm và không viêm và có tác dụng tương đương với tiêu chuẩn được chấp thuận với phương pháp điều trị khác, bao gồm benzoyl peroxide và erythromycin, cũng như tretinoin, nhưng nó được dung nạp tốt hơn và ít tác dụng phụ hơn.

Acid azelaic có khả năng cạnh tranh và vô hiệu hóa sự hoạt động của enzym ty lạp thể oxidoreductases và 5-alpha-reductase. Các cơ chế tác dụng của acid azelaic trong điều trị mụn trứng cá có thể liên quan đến tác dụng ức chế của nó trên oxidoreductase ty thể và tổng hợp AND. Nó có hoạt tính kháng khuẩn chiếm ưu thế trên P.  acnes bằng cách ức chế tổng hợp protein và có hiệu lực ly giải nhân mụn, ức chế sự tăng sinh và biệt hóa của tế bào sừng, cũng như hoạt động như một chất chống viêm.Tính chống viêm hoạt động nhờ đặc tính ức chế phóng thích các tiền chất gây viêm từ bạch cầu trung tính. Nó cũng có thể làm giảm sản xuất bã nhờn trên trán, cằm và má qua tác dụng ức chế trên việc chuyển đổi từ testosterone thành 5 dehydrotestosterone.

Các tác dụng phụ của acid azelaic đều nhẹ và thoáng qua. Khoảng 5% đến 10% người cảm giác nỏng hoặc cảm giác châm chích, đau thắt trên da và ban đỏ ở vùng điều trị nhưng điều này thường chỉ kéo dài trong một vài tuần. Nó có thể gây giảm sắc tố, nên sử dụng nó cần được theo dõi ở những người da đen.

Acid azelaic được Cục Quản lý thực phẩm dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phân loại sử dụng trong thai kỳ loại B: nó hấp thu tối thiểu khi sử dụng tại chỗ, do đó sử dụng trong thời kỳ mang thai và cho con bú không phải là mối quan tâm. Mặc dù vậy, sự bài tiết acid azelaic vào sữa đã được chứng minh và nên cần thận trọng ở các bà mẹ cho con bú.

Acid salicylic

Acid salicylic đã được sử dụng trong nhiều năm qua để điều trị mụn trứng cá.  Acid salicylic là một thành phần của hầu hết các chế phẩm điều trị mụn không kê đơn. Nồng độ của nó thay đổi từ 0,5% đến 3,0% và có chứa trong các loại chất rửa, kem và lotion. Acid salicylic đơn trị hoặc điều trị kết hợp với benzoyl peroxide hoặc clindamycin phosphate có thể cải thiện các tổn thương mụn trứng cá. Peel acid salicylic 20% hoặc 30% hoặc peel acid salicylic 20%, acid mandelic 10% cũng thường được sử dụng cho

điều trị mụn. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng acid salicylic bôi có tác động từ nhẹ đến trung bình trong khắc phục đối với cả hai tổn thương viêm và không viêm do mụn. Nó được chấp thuận sử dụng ở trẻ em bị mụn trứng cá.

Acid salicylic hữu trong hoạt động ly giải sừng và ly giải nhân mụn.  Nó có thể phá vỡ các nang thông qua ly giải chất kết dính giữa các tế bào lớp sừng và thúc đẩy quá trình bong các biểu mô tuyến bã. Acid salicylic cũng có khả năng chống viêm, ảnh hưởng đến những tác động của acid arachidonic.

Khi được sử dụng ở nồng độ 2% hoặc cao hơn, acid salicylic có thể gây lột da tại chỗ và gây khó chịu ở một mức độ nhất định. Acid salicylic được FDA phân loại cho thai kỳ loại C. Chưa có nghiên cứu tiến hành ở phụ nữ cho con bú sử dụng bôi acid salicylic và ít được đề cập về sự bài tiết acid salicylic trong sữa mẹ, do đó tốt nhất nên tránh sử dụng acid này trong thời kỳ cho con bú.

Nicotinamide

Nicotinamide là một thành phần của vitamin B. Nicotinamide 4% đã được chứng minh là có hiệu quả trong điều trị mụn nhẹ đến trung bình. Nicotinamide 5% dạng gel đã có hiệu quả như gel clindamycin 2% để điều trị mụn nhẹ mụn tới trung bình. Các cơ chế hoạt động chủ yếu là do hiệu lực chống viêm và ức chế sự sản xuất bã nhờn.

Nó được cho là an toàn trong thời kỳ mang thai, mặc dù nicotinamide không được chính thức phân loại sử dụng trong thai kỳ của FDA. Nicotinamide được bài tiết trong sữa mẹ, nhưng không có dữ liệu liên quan đến sử dụng nicotinamide tại chỗ ở những phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú.

Lưu huỳnh

Lưu huỳnh dùng tại chỗ có nồng độ từ 1% đến 10% đã được sử dụng trong điều trị mụn trứng cá trong nhiều thập kỷ qua. Mặc dù nó có thể vừa gây mụn và ly giải mụn. Lưu huỳnh có thể được sử dụng dưới hình thức lotion, kem, thuốc mỡ và xà phòng. Khi sử dụng cùng với benzoyl peroxide hoặc natri sulfacetamide, lưu huỳnh có hiệu quả điều trị tốt hơn trên mụn.

Natri sulfacetamide với lotion lưu huỳnh; benzoyl peroxide 10% và lưu huỳnh khoảng 2% đến 5% trong kem đã cho thấy có hiệu quả điều trị mụn trứng cá.

Cơ chế tác động có thể là do hoạt động ly giải tế bào sừng của lưu huỳnh và tác dụng ức chế sự gia tăng của P. acnes. Người ta cho rằng lưu huỳnh tương tác với cysteine ​​trong keratinocytes dẫn đến việc sản xuất hydrogen sulfur có tác dụng ly giải sừng bởi vỡ các liên kết disulphide của cysteine trong các phân tử trong chất sừng.

Tác dụng phụ đã được tìm thấy trong quá trình sử dụng lưu huỳnh tại chỗ thường được báo cáo bao gồm khô và ngứa da. Lưu huỳnh đã được phân loại như một loại C theo FDA phân loại dùng trong thai lỳ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *