Tìm Hiểu Về Các Chất Làm Trắng Thường Dùng Trong Mỹ Phẩm

Sự gia tăng bất thường lượng melanin trong lớp biểu bì là nguyên nhân chính gây tăng sắc tố như nám, tàn nhang,… Một số nguyên nhân chính là do tiếp xúc với tia UV, hormon nữ và do di truyền, nhưng trong nhiều trường hợp các cơ chế thì chưa được hiểu rõ. Vì vậy, các hoạt chất kiểm soát sản xuất hoặc chuyển hóa melanin được dùng như chất làm trắng trong các trường hợp này.

Các chất làm trắng hoạt động dựa trên sự ức chế sản sinh melanin trong tế bào sinh sắc tố, giảm lượng melanin hiện có, tăng cường bài tiết melanin trong biểu bì và gây độc tính chọn lọc đối với các tế bào sắc tố. Chất ức chế sản xuất melanin, như arbutin, acid kojic, vitamin C và dẫn xuất của nó, chiết xuất nhau thai được dùng trong sản phẩm làm trắng da vì mức độ độc tính đối với tế bào sắc tố rất thấp. Các mỹ phẩm làm trắng trên thị trường có hiệu quả ngăn ngừa tăng sắc tố như nám và tàn nhang gây ra bởi tia UV từ ánh nắng mặt trời. Hydroquinon có tác dụng mạnh và được sử dụng như thuốc OTC ở Mỹ nhưng không dùng trong mỹ phẩm vì các phản ứng không mong muốn của nó.

Arbutin

Arbutin là tên phổ biến cho hydroxyquinon-β-D-glucopyranosid (4’- hydroxyphenyl-β-D-glucopyranosid). Khả năng kiểm soát sản sinh melanin của arbutin được chứng minh bằng các thử nghiệm in vivo và in vitro.

Trong các hệ thống thử nghiệm in vitro ngoài tế bào sử dụng tyrosinase – một oxidase chính trong sản xuất melanin, arbutin ức chế hoạt tính của tyrosinase nấm và tyrosinase có nguồn gốc từ khối u ác tính B16 ở chuột. Trong trường hợp tyrosinase nấm, arbutin hoạt động như một chất ức chế cạnh tranh của tyrosinase. Trong nghiên cứu ở mức độ tế bào bằng cách sử dụng các tế bào u ác tính B16, arbutin đã ức chế sản sinh melanin mà không ảnh hưởng đến sự gia tăng tế bào và cũng không làm giảm hoạt tính của tyrosinase. Ức chế sản xuất melanin bằng arbutin không dựa trên cơ chế gây độc tế bào sắc tố bằng hydroquinonemonobenzylether, nhưng ức chế hoạt tính hoặc sự sản sinh của tyrosinase. Ngoài ra, arbutin ức chế sản xuất melanin nhưng không bị chuyển hóa thành hydroquinon.

Hiệu quả in vivo của arbutin đối với sắc tố do tia UV gây ra trên da đã được kiểm chứng bằng các nghiên cứu mù đôi và được chứng minh với kem dưỡng da chứa arbutin mang lại hiệu quả cao trên da.

Acid kojic

Acid kojic là hợp chất γ-pyron, được sản xuất chủ yếu bằng quá trình lên men vi sinh sử dụng aspergillus và penicillium spp. Cả hai thí nghiệm in vivo và in vitro đều cho thấy acid kojic có khả năng ức chế sản xuất melanin.

Trong các thử nghiệm in vitro ngoài tế bào, acid kojic ức chế hoạt tính của tyrosinase nấm. Trong trường hợp này, hoạt tính của tirosinase bị ức chế bởi cơ chế không cạnh tranh. Sự ức chế này được chứng minh là do chelat của Cu. Trong các nghiên cứu ở mức độ tế bào bằng cách sử dụng tế bào u ác tính B16, acid kojic làm giảm sự sản sinh melanin và hoạt tính của tyrosinase.

Trong các thử nghiệm in vivo, các loại kem có chứa acid kojic được chứng minh là có hiệu quả ngăn ngừa thay đổi sắc tố trong da do tiếp xúc với UVA và UVB.

Vitamin C và dẫn chất

Vitamin C còn được biết là acid ascorbic, là một dược phẩm điển hình được sử dụng trong các mỹ phẩm làm trắng để kiểm soát sự sản xuất melanin. Vitamin C có tác động kép: nó làm giảm hợp chất trung gian của melanin – dopaquinon, trong phản ứng tyrosinase tạo ra melanin từ tyrosine và nó cũng làm giảm lượng melanin bị oxy hóa có màu sẫm thành dạng có màu sáng hơn.

Vitamin C rất an toàn nhưng không ổn định. Do đó các dẫn xuất thường được sử dụng vì tính ổn định cao hơn. Vitamin C phosphat (muối magie) đã được phát triển do tính ổn định cao trong dung dịch nước. Khi vitamin C phosphat được ủ trên da, thì vitamin C sẽ được giải phóng.

Trong các thử nghiệm in vivo về kiểm soát sản xuất melanin, khi các sản phẩm chứa vitamin C phosphat được sử dụng thời gian dài trên da có dấu hiệu tăng sắc tố sau khi tiếp xúc với tia UV, màu da phục hồi nhanh hơn so với các vùng da không được điều trị.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *