CHỨNG ĐỎ DA VÙNG MẶT (ROSACEA)

Chứng đỏ mặt (Rosacea) là một rối loạn dạng trứng cá mạn tính của nang lông tuyến bã vùng mặt đi kèm với tính năng phản ứng của mao mạch với nhiệt, sức nóng xuất hiện cơn đỏ bừng mặt và về sau là giãn mao mạch. Bệnh này trước kia gọi là trứng cá đỏ (Acne rosacea) nhưng không phải lúc nào cũng có kèm trứng cá, đầu tiên có thể bị trứng cá về sau bị chứng đỏ mặt. Bệnh gây ảnh hưởng về thẩm mỹ.

Các tổn thương của bệnh bao gồm:

  • Đỏ ở vùng trung tâm của mặt với giãn mao mạch và nóng bừng mặt.
  • Tổn thương viêm (mụn mủ, nang mủ,…)
  • Các tổn thương phì đại (phì đại và xơ hóa da) thường gặp nhất là ở vùng mũi
  • Viêm mắt (viêm kết mạc, viêm bờ mi).

Chứng đỏ mặt xảy ra ở tất cả các sắc tộc, nhưng người da trắng có khuynh hướng dễ bị tổn thương nhất, một nghiên cứu tại Thụy Điển cho thấy tỷ lệ là 10% (phụ nữ 14%, đàn ông 5%). Tỷ lệ mắc bệnh toàn cầu là 5,41% ở phụ nữ và 3,9% ở nam giới và chủ yếu ảnh hưởng đến người lớn trong độ tuổi từ 45 đến 60 tuổi.

Chứng đỏ mặt không chỉ là một bệnh ngoài da

Chứng đỏ mặt  kết hợp với sự tăng nhạy cảm của hệ thống miễn dịch bẩm sinh, trong đó các rào cản biểu mô chống lại sự nhiễm trùng, các hóa chất hoặc tác nhân vật lý (bức xạ cực tím, nóng hoặc lạnh) bị tổn thương. Quá trình viêm không đặc hiệu này được kích hoạt bởi một loạt các yếu tố môi trường, chế độ ăn uống, nội tiết tố và lối sống. Trong đó, đỏ mặt chỉ là biểu hiện bề mặt của một tiến trình viêm toàn thân.

Chứng đỏ mặt là một bệnh di truyền, với các nghiên cứu liên kết gen gần đây cho thấy một nhóm các nguy cơ di truyền đi cùng với bệnh này, trong đó có bệnh tiểu đường loại 1, bệnh loét dạ dày, viêm khớp dạng thấp và xơ cứng bì. Các nghiên cứu dịch tễ học chỉ rõ mối liên quan giữa chứng đỏ mặt với các bệnh kèm theo ảnh hưởng đến hầu hết mọi hệ thống cơ quan:

  • Miễn dịch (dị ứng thức ăn và không khí)
  • Tiêu hóa (viêm loét đại tràng, bệnh Crohn, nhiễm Helicobacter pylori, bệnh trào ngược dạ dày thực quản)
  • Tim mạch (tăng huyết áp, bệnh động mạch vành, rối loạn lipid máu)
  • Nội tiết (đái tháo đường loại 1 và 2)
  • Cơ xương khớp (viêm khớp dạng thấp)
  • Thần kinh (đau nửa đầu, mất trí nhớ, bệnh Parkinson)
  • Tâm thần (trầm cảm, lo âu, nghiện rượu).

Các bệnh nhân với chứng đỏ mặt ngoài việc quan tâm đến các triệu chứng về da thì nên được khám sàng lọc bệnh ở các hệ thống cơ quan khác.

Một số hình ảnh về chứng đỏ da trên mặt

Vai trò thật sự của thuốc kháng sinh trong điều trị chứng đỏ mặt

Doxycycline liều thấp (40 mg mỗi ngày một lần) là thuốc duy nhất được FDA chấp thuận cho điều trị bằng đường uống, mặc dù các phương pháp điều trị khác bao gồm các kháng sinh khác (minocycline, azithromycin), ivermectin uống và isotretinoin vẫn được sử dụng.

Trong quá, tetracycline được sử dụng cho chứng đỏ mặt với cơ chế giả định nhắm mục tiêu các vi khuẩn có thể khởi phát quá trình viêm trên bề mặt da như Propionibacterium acnes và Staphylococcus epidermidis. Các giả định tương tự đã được thực hiện cho các kháng sinh tại chỗ (metronidazol, acid azelaic, natri sulfacetamide) và thuốc chống ký sinh trùng ivermectin.

Nhưng liệu chứng đỏ mặt có thực sự là một bệnh nhiễm trùng?

Các bằng chứng ngày càng nhiều chỉ đến một nguyên nhân khác: sựu tăng hoạt thái quá của hệ thống miễn dịch bẩm sinh. Nói một cách đơn giản, miễn dịch bẩm sinh là một hệ thống miễn dịch nguyên thủy, không đặc hiệu bảo vệ các biểu mô, chẳng hạn như da và ruột khỏi các  vi khuẩn, hóa chất và tổn thương vật lý. Các thành phần quan trọng của con đường này bao gồm các thụ thể khi được kích hoạt sẽ làm tăng của các cytokine tiền viêm, protease và các peptide kháng khuẩn (cathelicidin) trong da.

Trong chứng đỏ mặt, viêm da biểu hiện bằng tăng nồng độ cathelicidin và protease. Trong một nghiên cứu 12 tuần, doxycycline (40 mg/ngày) làm giảm tổn thương viêm và cải thiện điểm đánh giá tổng quát so với giả dược. Cải thiện lâm sàng tương quan với sự sụt giảm hoạt tính của cathelicidin và protease, hỗ trợ ý tưởng rằng doxycycline cải thiện bệnh này thông qua chống viêm chứ không phải là cơ chế kháng khuẩn. Tác dụng chống viêm tương tự đã được chứng minh cho metronidazole tại chỗ, acid azelaic và ivermectin.

Không có phác đồ điều trị tiêu chuẩn

Chứng đỏ mặt có nhiều biến thể, mỗi biến thể có thể xuất hiện ở cùng một bệnh nhân trong cùng một thời điểm hoặc vào các thời điểm khác nhau. Các biến thể khác nhau của bệnh thì đáp ứng tốt nhất với các phương pháp điều trị khác nhau. Trong bối cảnh này, mỗi bệnh nhân cần có kế hoạch điều trị cá thể hóa.

Tất cả bệnh nhân nên được hướng dẫn việc chăm sóc da nhẹ nhàng và tránh các tác nhân kích thích, chẳng hạn như tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, chất tẩy rửa có tính acid hoặc chất tẩy rửa khác, mỹ phẩm, hương thơm và các kích thích từ chế độ ăn uống (rượu, thức ăn cay). Sử dụng kem chống nắng hàng ngày và tránh các kích thích cơ học như tẩy tế bào chết trên khuôn mặt cũng nên được khuyến khích.

Không có phác đồ điều trị tiêu chuẩn cho chứng đỏ da

Da đỏ, mắt đỏ

Chứng đỏ mặt có nhiều thể bệnh khác nhau:

Thể 1: thể giãn mạch.

Đặc trưng bởi bừng đỏ, ban đỏ cố định vùng mặt trung tâm. Giãn mạch thường gặp, nhưng không phải là triệu chứng cần thiết cho chẩn đoán bệnh.

Thể 2: Thể sẩn, mụn mủ.

Đặc trưng bởi ban đỏ cố định vùng mặt trung tâm. Kèm theo có các sẩn xuất hiện thoáng qua, mụn mủ hoặc cả hai ở vị trí trung tâm của mặt. Cảm giác dát bỏng, nhức như kim châm có thể gặp.

Thể 3: Thể phì đại

Đặc trưng là da dày, nhiều nốt trên bề mặt da, kích thước không đều, tạo thành các mảng lớn. Thể Rosacea phì đại thường hay gặp nhất như dạng mũi phì đại nhưng có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trị nào ở mặt như cằm, trán, gò má, và tai. Nang lông trở nên rộng ra rõ rệt ở vùng da phì đại và giãn mạch có thể gặp.

Thể 4: Thể mắt.

Đặc trưng tổn thương ở mắt với biểu hiện mặt đỏ ngầu hoặc luôn ướt (sung huyết kết mạc), càm giác vật lạ trong mắt, dát bỏng hoặc nhức như kim châm, khô mắt, ngứa, nhạy cảm ánh sáng, giảm thị lực, giản mạch ở vùng kết mạc và bờ mi mắt, hoặc dát đỏ vùng bờ mi hoặc quanh mắt. Viêm kết mạc, viêm bờ mi, và xuất hiện bờ mi mắt không đều.

Chứng đỏ mặt có liên quan đến mắt trong 50% trường hợp. Bệnh thể mắt có thể không có triệu chứng lúc đầu, nhưng thường tiến triển với ngứa và rát. Nếu không được điều trị, thể mắt có thể dẫn đến biến dạng và di chứng lâu dài.

Bệnh nhân có triệu chứng của chứng đỏ mặt thể mắt nên được điều trị bởi một bác sĩ nhãn khoa để được quản lý tối ưu, sự kết hợp của doxycycline liều thấp, azithromycin tại chỗ và cyclosporine có thể có hiệu quả. Khi triệu chứng nhẹ, bệnh thể này dễ điều trị hơn, vì vậy việc phát hiện sớm và can thiệp là rất quan trọng. Đáng chú ý, bệnh thể mắt có thể xuất hiện mặc dù triệu chứng ở da không rõ ràng.

Đỏ mặt dai dẳng? Vai trò của laser và liệu pháp ánh sáng

Viêm mãn tính trong chứng đỏ mặt dẫn đến tăng cao các yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu và các yếu tố gây tăng sinh mạch khác, điều này dẫn hiện tượng giãn mạch đặc trưng của bệnh với sự tập trung đa số giãn mạch ở vùng trung tâm khuôn mặt.

Các chất đồng vận thụ thể alpha adrenergic tại chỗ có thể làm giảm hồng ban ban đầu, nhưng có ít tác dụng trên sựu giản mạch. Để điều trị hiệu quả, laser và ánh sáng xung cường độ cao là cần thiết. Để ngăn ngừa phồng rộp và viêm hoặc tăng sắc tố sau viêm, bệnh nhân nên tránh phơi nắng trước khi bắt đầu điều trị bằng laser.

Giãn mạch ở vùng trung tâm khuôn mặt