HYDROXY ACID TRONG THẨM MỸ (PHẦN 2)

Polyhydroxy Acid (PHA)

Polyhydroxy Acid (PHA)

PHA là một thế hệ mới của AHA, cho hiệu quả tương tự nhưng ít gây kích ứng hơn. PHA là acid carboxylic hữu cơ với hai hoặc nhiều nhóm –OH trong phân tử gắn với những nguyên tử carbon mạch thẳng của chuỗi alicylic. Tất cả nhóm –OH trong PHA đều trung tính, và chỉ nhóm –COOH thể hiện tính acid. Gluconolactone là PHA thường được sử dụng nhất trong sản phẩm chăm sóc da, hợp chất này chống lão hóa tốt đồng thời củng cố hàng rào bảo vệ da, dịu nhẹ, dưỡng ẩm, chống oxy hóa và có khả năng tạo phức được.

Theo 1 nghiên cứu, gluconolactone chống lại đến 50% lượng bức xạ UV. Vì UV ít hấp thụ gluconolactone, hợp chất này có khả năng tạo phức chelat với ion kim loại thúc đẩy quá trình oxy hóa và “nhốt” các gốc tự do bên trong nó. Hợp chất này khi được bào chế với hợp chất oxy hóa như benzoyl peroxid sẽ làm giảm kích ứng và phù nề. Hơn nữa, gluconolactone đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc cải thiên độ ẩm cho da, đường nhăn và nếp nhăn, da lỏng lẻo, không đều màu, khô ráp và lỗ chân lông to.

Bionic acid (BA)

BA được phân nhóm hóa học là acid aldobionic, trong công thức có chứa một monomer là carbohydrate liên kết với acid analdonic và acid lactobionic, điển hình nhất trong nhóm này là acid maltobionic và acid cellobionic.

Vì chứa nhiều nhóm –OH, acid lactobionic hút ẩm mạnh và hiệu quả hơn AHA thông thường, kích thích tổng hợp GAG trên da nhờ vào sự hiện diện của D-galactose (một loại đường tồn tại trong tự nhiên cần cho sự tổng hợp GAG và sự chuyển hóa trên da) được gắn chặt vào cấu trúc polyhydroxy acid. BA có kích thước phân tử lớn hơn AHA thông thường nhưng vẫn đủ nhỏ để thâm nhập được vào da với trọng lượng xấp xỉ 358 Da và giá trị pKa tương đương.

BA là những nguyên liệu hút ẩm có khả năng thu hút và lưu giữ nước, để lại bộ khung gel khi dung dịch nước của chúng bị bốc hơi ở nhiệt độ phòng. Sự hình thành bộ khung gel góp phần bảo vệ và làm dịu da khi viêm. Thật vậy, những công thức chứa BA cho đáp ứng tốt và giúp làm dịu da khi được sử dụng sau những quy trình thẩm mỹ làm cho hàng rào da bị yếu đi, chẳng hạn như thay da nông với HA và mài da vi điểm. Green đã tiến hành một nghiên cứu về những ảnh hưởng của sản phẩm chứa acid lactobionic và nhận thấy sự cải thiện rõ rệt và đáp ứng tốt về mặt kết cấu trên những làn da bị lão hóa.

Bảng 3. Độ an toàn và cơ chế tác động của HA

Loại HA Đánh giá độ an toàn Cơ chế tác dụng sinh học
AHA Không gây đột biến hay ung thư, không độc với cơ quan sinh sản hay với sự sinh trưởng, không là chất nhạy cảm với da Tạo phức với ion Ca làm giảm nồng độ Ca trên biểu bì và lỏng lẻo liên kết giữa các tế bào sừng, từ đó dẫn đến bong tróc, thúc đẩy tăng sinh và làm chậm quá trình biệt hóa.
Acid glycolic Tăng nhạy cảm với bức xạ ánh sáng trên da người. Tăng sự biểu hiện gen quy định acid hyaluronic và collagen ở biểu bì, trung bì. Thúc đẩy tổng hợp collagen thông qua nguyên bào sợi và điều chỉnh thoái giáng khung protein cũng như quá trình tổng hợp collagen nhờ vào cytokine được phóng thích bởi keratinocyte.

Thúc đẩy chu trình tế bào biểu bì và ức chế sự hình thành melanin trong các melonocyte nhờ việc trực tiếp ức chế hoạt động của tyrosinase.

PHA Chống nắng Đóng vai trò tạo phức và “thu gom” các gốc oxy hóa tự do.
SA Tăng cường thấm qua da, không nhạy cảm ánh sáng, không độc quang học Tác động đến quá trình phiên mã, làm giảm sản xuất các nhân tố độc lực như fibrinogen, fibronectin và α-hemolysin cần thiết cho quá trình nhân đôi của vi sinh vật trong vật chủ.

Acid lactobionic cũng có vai trò như một chất ức chế của enzym MMP. Khi enzym này hoạt động quá nhiều do lão hóa và tác động của ánh nắng, dẫn đến hình thành nếp nhăn, chảy xệ da và giãn mao mạch. Việc sử dụng BA để ức chế MMP cho hiệu quả tốt trong việc chống lão hóa. Tasic-Kostov và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu để đánh giá độ an toàn và hiệu quả của acid lactobionic khi so sánh với acid glycolic và nhận thấy rằng acid lactobionic cải thiện làn da khi so sánh với acid glycolic với nồng độ tương ứng, đặc biệt hiệu quả với da bị kích ứng và hàng rào bảo vệ bị tổn thương. Hiệu lực của acid lactobionic và acid glycolic sẽ cao hơn khi sử dụng nền vận chuyển là chất nhũ hóa analkylpolyglucosid (APG), qua đó cũng cho thấy được tầm quan trọng của chất mang với hiệu quả của các hoạt chất dùng ngoài.

Ứng dụng trong lâm sàng của HA

Nếp nhăn và lão hóa

Acid glycolic làm tăng sản xuất collagen, acid hyaluronic và gia tăng nguyên bào sợi

Việc tiếp xúc với tia UV lâu dài dễ sinh ra các gốc hóa học tự do gây tổn thương cho da. Phơi nắng lâu ngày làm da dễ bị lão hóa, lớp trung bì dày lên do sự thoái giáng mạng lưới vi sợi đàn hồi, tích lũy những sản phẩm phân hủy và lắng đọng lysozym; lớp biểu bì mỏng lại với những tế bào biến dạng, mất độ phân cực, sắc tố bất thường khiến nhăn nheo và không còn mịn màng. AHA tạo phức với ion Ca trong tế bào biểu bì, làm lỏng lẻo liên kết giữa các tế bào, kích thích sự bong tróc các lớp tế bào chết bị khô ở bên ngoài. Nồng độ Ca suy giảm cũng là nhân tố thúc đẩy tăng sinh tế bào và làm chậm đi quá trình biệt hóa, hạn chế sự xuất hiện của nếp nhăn, giúp da trông trẻ hơn.

AHA cũng tăng cường bộc lộ gen của collagen và acid hyaluronic trong trung bì và biểu bì, giúp da căng mịn và ẩm mượt. Những nghiên cứu trước đó cũng cho thấy có sự gia tăng đáng kể của bề dày lớp trung bì song song với gia tăng lượng acid hyaluronic và các GAG khác, chất lượng sợi collagen và sợi đàn hồi được cải thiện. Hiệu quả này có thể kéo dài trong nhiều tháng. Acid glycolic làm tăng sản xuất collagen, acid hyaluronic và gia tăng nguyên bào sợi. Vùng da trước cánh tay bị tổn hại do ánh nắng khi được điều trị với lotion chứa acid glycolic 20% (dầu trong nước, pH 3,9) 2 lần/ngày liên tục trong 3 tháng giúp cải thiện độ dày lớp biểu bì, tăng nồng độ acid hyaluronic trong biểu bì và trung bì, đồng thời tăng bộc lộ gen collagen. Ngay cả khi chỉ tăng một lượng nhỏ acid hyaluronic cũng ảnh hưởng lớn đến độ ẩm mượt, vẻ ngoài, kết cấu và chức năng của da.

Mặc dù GAG chỉ chiếm từ 0,1-0,3% khối lượng khô của hạ bì bình thường, chúng có thể trương nở gấp 1000 lần khi ở trong nước. Vì vậy, chỉ một sự thay đổi nhỏ số lượng GAG trung bì sẽ ảnh hưởng lớn đến độ ngậm nước, vẻ ngoài, kết cấu và chức năng của da. GAG cung cấp môi trường nước cho sự di chuyển tế bào, khuếch tán chất dinh dưỡng và hạn chế chuyển hóa chất độc. Fibrin và acid hyaluronic tạo nên một mạng lưới bao phủ lên miệng của vết thương hở, tạo thành bệ đỡ cho những tế bào di chuyển tới vùng bị tổn thương. Vì vậy sự lắng đọng GAG tạo tiền đề cho sự hình thành collagen và tái tạo làn da.

GAG biểu bì tăng 2,0-2,5 lần sau khi điều trị bằng AHA, kết quả này tương đương với khi sử dụng acid retinoic. Rendl và cộng sự đã nghiên cứu tác động của kem chứa acid lactic trên sự bài tiết cytokine của keratinocyte ở biểu bì tái cấu trúc của người. Kết quả cho thấy rằng sự chết có chương trình (apoptosis) của tế bào phụ thuộc nhiều vào nồng độ của acid lactic trong sản phẩm. Thêm vào đó, họ cũng chứng minh được những sản phẩm chứa 1,5% hoặc 3% acid lactic cũng làm tăng bài tiết yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF), giúp cải thiện vùng da bị lão hóa.

Thay da

Thay da sinh học là một ứng dụng phổ biến của HA

Ở nồng độ cao (trên 70%), acid glycolic và acid lactic có thể được dùng trên da trong thời gian ngắn để tạo sự bong tróc mạnh, thúc đẩy làm mới lớp biểu bì và trung bì để tái tạo làn da, hỗ trợ trị mụn, rosacea và tăng sắc tố. Thay da với HA là một lựa chọn tốt để điều trị trước và sau tái tạo bề mặt da với laser, khi đó acid glycolic với nồng độ 50% được sử dụng trước khi điều trị 2 và 4 tuần còn nồng độ 70% được dùng ngay sau khi điều trị laser, quá trình này sẽ giảm bớt được chiều dài phác đồ điều trị của laser và hạn chế biến chứng xảy ra.

Mụn

5-20% HA thường được dùng trong điều trị mụn nhẹ hoặc dùng cho làn da dễ nổi mụn

Các sản phẩm điều trị mụn trên thị trường thường chứa 5-20% HA, chủ yếu thích hợp với bệnh nhân bị mụn nhẹ hoặc có làn da dễ nổi mụn. pH sản phẩm dao động trong khoảng từ 2-8. Tuy nhiên, nồng độ và pH thấp hơn nhiều so với pH sinh lý của da chính là nhân tố chính quyết định khả năng ly giải nhân mụn và kháng khuẩn của hoạt chất.

Hiệu lực của AHA phụ thuộc vào nồng độ sử dụng, giúp làm giảm sự kết dính của những tế bào ở lớp ngoài cũng như các corneocyte ở trong nang lông của lớp sừng. Hơn nữa, khi pH thay đổi, protease như aspartase và cystein protease được kích hoạt nhiều hơn ở da ngoài cùng, vì thế quá trình bong tróc được tăng cường nhìn thấy rõ nhất ở việc chu trình tế bào sừng gia tăng lên. Sự sinh trưởng của vi khuẩn bị gián đoạn và hoạt động của chúng suy yếu dần, đặc biệt là chủng Propionium.

Nhũ tương dầu trong nước chứa 10% acid glycolic đơn trị giúp cải thiện tình trạng mụn nhẹ sau liệu trình kéo dài 45 ngày. Việc sử dụng sản phẩm acid glycolic trong 6 tuần dẫn đến làm giảm pH da từ 6,2 còn 5,4. pH acid trên da kích hoạt khả năng kháng khuẩn, làm giảm số lượng P.acnes. Hơn nữa, acid glycolic không tẩy hay làm mất màu của vật liệu và hầu như không bị đề kháng phát sinh.

SA làm phân hủy liên kết giữa các tế bào, gây ly giải lớp sừng. Tính thân dầu cho phép chúng tương tác với những cấu trúc xung quanh keratinocyte trong lớp sừng, giúp thu nhỏ lỗ chân lông và ly giải nhân mụn, vì vậy SA rất hiệu quả trong điều trị mụn ẩn và mụn viêm, đồng thời hoạt chất này còn làm nhạt màu những đốm tăng sắc tố sau viêm trên da.

Kessler và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu để so sánh hiệu quả trị liệu của AHA (acid glycolic 30%) và BHA (30% acid salicylic) trên những bệnh nhân bị mụn nhẹ đến nặng ở một bên mặt trong vòng 2 tuần (6 liệu trình). Cả hai đều làm giảm mụn nang và mụn mủ sau lần điều trị thứ 2 và không có sự khác biệt về hiệu quả, dù vậy acid glycolic vẫn cho nhiều tác dụng phụ hơn.

Hỗ trợ cho những thuốc dùng ngoài da

HA có thể được sử dụng để tăng cường và cải thiện hiệu quả điều trị của một số hoạt chất khác, ví dụ như acid lactic và muối ammonium giúp hạn chế tình trạng teo da do sử dụng corticoid do AHA giúp thúc đẩy tăng sinh tổng hợp collagen và các GAG. Ngoài ra, AHA cũng phá hủy liên kết giữa các tế bào sừng, tạo điều kiện cho hoạt chất có thể gắn kết tốt hơn với receptor của chúng, chẳng hạn như 0,5% acid benzilic và clobetasol propionate 0,05% dùng phối hợp trong điều trị vẩy nến sẽ cho đáp ứng lâm sàng tốt hơn clobetasol propionate 0,05% đơn trị.

Kết luận

HA là nhóm các hợp chất có thể sử dụng trong các sản phẩm dùng ngoài hoặc dùng trong thay da, đây cũng là những lựa chọn phổ biến để điều trị các bệnh tăng sừng hóa, lão hóa, tăng sắc tố và mụn, sản phẩm cho đáp ứng tốt và tương đối an toàn cho người dùng. Những liệu trình điều trị phức tạp cần được thực hiện bởi những chuyên gia da liễu để tránh những biến chứng như ly giải lớp sừng, phồng rộp, sẹo, phù nề kéo dài và tăng sắc tố sau viêm.